Untitled 2
Home / Tư vấn luật / Tư vấn luật doanh nghiệp / Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trách nhiệm của doanh nghiệp
Giao dịch bằng giấy tờ viết tay có hiệu lực không

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trách nhiệm của doanh nghiệp

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW trả lời báo điện tử vov về trách nhiệm của doanh nghiệp với người tiêu dùng.

  1. Trong bối cảnh thị trường hàng hóa đa dạng, phong phú như hiện nay, người tiêu dùng rất dễ bị lạc trong một mê cung hàng hóa, thật-giả khó phân biệt, doanh nghiệp cần có trách nhiệm như thế nào trong việc bảo vệ người tiêu dùng?

Trả lời:

Bảo vệ người tiêu dùng (NTD) là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội bởi thực trạng quyền và lợi ích của NTD bị xâm phạm đang diễn ra khá phổ biến. Do đó, nhiều quốc gia đã sớm ban hành các đạo luật với mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD và mang lại hiệu quả tốt.

Tại Việt nam, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 là bước ngoặt lớn về xã hội hóa công tác bảo vệ NTD.

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng tại Chương 2. Cụ thể:

Thứ nhất, trách nhiệm của doanh nghiệp liên quan đến các hành vi thương mại không công bằng đối với người tiêu dùng như: hành vi gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng; hành vi quấy rối người tiêu dùng; hành vi cưỡng ép người tiêu dùng, … Ngoài ra, doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh đối với các hành vi thương mại không công bằng để đáp ứng được tính chính xác và đầy đủ của thông tin.

Thứ hai, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng trong quan hệ hợp đồng, như: hình thức và ngôn ngữ của hợp đồng giao kết với người tiêu dùng; những nội dung bị cấm đưa vào hợp đồng; các chi phí phát sinh trong giao dịch; bảo hành; quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người tiêu dùng; trách nhiệm của doanh nghiệp khi sử dụng hợp đồng theo mẫu, …

Thứ ba, trách nhiệm sản phẩm. Theo đó, nhà sản xuất có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD do khuyết tật trong sản phẩm của mình gây ra hoặc do không đảm bảo mức độ an toàn hợp lý cho NTD, như: cách xác định sản phẩm khuyết tật; thời điểm đưa sản phẩm vào lưu thông; khái niệm nhà sản xuất; thiệt hại do bộ phận của sản phẩm có khuyết tật gây ra; nghĩa vụ chứng minh, …

Bên cạnh trách nhiệm của các doanh nghiệp thì thái độ, hành vi của NTD đóng vai trò hết sức quan trọng. NTD cần thông minh khi lựa chọn sản phẩm cho mình, cần có các kiến thức nhất định về chất lượng sản phẩm hàng hóa.

  1. Thực tế có rất nhiều trường hợp, doanh nghiệp không tuân thủ theo đúng quy định của luật pháp như: cung cấp sản phẩm không đúng như cam kết với khách hàng, không thực hiện chuẩn các chế độ bảo dưỡng, bảo hành sản phẩm. Theo ông những trường hợp này cần phải xử lý như thế nào? Luật pháp đã có quy định về việc này chưa?

Trả lời:

Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp, đặt ra nhiều loại chế tài như chế tài hành chính (phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, …), chế tài dân sự (buộc công khai xin lỗi, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, …) và cả loại chế tài nghiêm khắc nhất là chế tài hình sự (tùy theo tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị áp dụng loại, mức hình phạt cụ thể, cao nhất là tử hình).

Thứ nhất, về xử phạt vi phạm hành chính:

Hiện nay, việc xử phạt vi phạm hành chính các hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng được quy định tại Nghị định số 185/2013/NĐ – CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP).

Ví dụ: Doanh nghiệp có hành vi không thực hiện chuẩn các chế độ bảo dưỡng, bảo hành sản phẩm thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 66 Nghị định này, cụ thể:

Điều 66. Hành vi vi phạm về cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng

  1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với thương nhân có một trong các hành vi vi phạm về cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng sau đây:
  2. a) Không cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa theo quy định;
  3. b) Không cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa theo quy định;
  4. c) Không cung cấp hướng dẫn sử dụng hoặc không cung cấp thông tin về điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành theo quy định; …”.

Thứ hai, về xử lý hình sự:

Luật hình sự bảo vệ người tiêu dùng bằng cách xác định những hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng là tội phạm và các hình thức trách nhiệm pháp lý hình sự có thể được áp dụng đối với người phạm tội (bao gồm hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác). Bộ luật hình sự hiện hành không có một chương riêng quy định hành vi phạm tội xâm phạm đến người tiêu dùng, nhưng có 8 tội thuộc nhóm tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng nằm ở 2 chương: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII) và Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Chương XXI); bao gồm:

  • Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192 BLHS năm 2015);
  • Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 193);
  • Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194);
  • Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật, vật nuôi (Điều 195);
  • Tội lừa dối khách hàng (Điều 198);
  • Tội vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm(Điều 317).

Tin nổi bật

dn1-internet

Công ty hợp danh có nhất thiết phải có thành viên góp vốn không?

Câu hỏi: Xin chào luật sư. Tôi muốn hỏi công ty hợp danh có nhất …

Chat Zalo: 0904340664