Xuất hoá đơn khi mua căn hộ

0
51

Tôi và một số hộ dân có mua căn hộ tại một dự án chung cư tại Hà Nội, đã hoàn thành nghĩa vụ mua bán và ở hơn 2 năm nay. Tuy nhiên, đến nay phía chủ đầu tư vẫn chưa xuất hóa đơn hàng hóa, dịch vụ (bao gồm tiền mua căn hộ, phí dịch vụ) cho các hộ dân.

Vậy, theo quy định pháp luật về thuế, phí, chủ đầu tư dự án có phải xuất hóa đơn hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng không? Nếu không xuất thì có vi phạm quy định pháp luật không?

Căn cứ tính thuế của nhà nước dựa theo giá trị hàng hóa mua bán hay tính cả thời gian chậm nộp của chủ đầu tư?

Hành vi này có dấu hiệu tội trốn thuế không? Pháp luật quy định thế nào về tội trốn thuế, và đối với pháp nhân thì xử lý thế nào?

Trả lời

  1. Đối với nghĩa vụ xuất hóa đơn của chủ đầu tư dự án:

Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ, “Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn để giao cho người mua (bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa) và phải ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 10 Nghị định này, trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử thì phải theo định dạng chuẩn dữ liệu của cơ quan thuế theo quy định tại Điều 12 Nghị định này”. Đồng thời, Điều 9 của Nghị định này quy định “Thời điểm lập hóa đơn đối với bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền”.

Như vậy, khi mua bán hàng hóa, người bán phải xuất hóa đơn ngay tại thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng cho người mua. Việc không lập hóa đơn hay lập hóa đơn sai thời điểm đều được coi là vi phạm quy định pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính theo Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Trong trường hợp này, khi mua bán căn hộ, chủ đầu tư phải xuất hóa đơn ngay tại thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng căn hộ cho người mua. Tuy nhiên, đã hơn 2 năm kể từ ngày chủ đầu tư bàn giao căn hộ tới khách hàng nhưng chưa xuất hóa đơn, hành vi này đã vi phạm quy định về hóa đơn và hoàn toàn có thể bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tùy theo giá trị căn hộ và tình tiết của vụ việc mà chủ đầu tư có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội Trốn thuế.

 

Xuất hoá đơn khi mua căn hộ
Xuất hoá đơn khi mua căn hộ
  1. Căn cứ tính thuế khi mua bán căn hộ chung cư

Khi các bên tiến hành mua bán, chuyển nhượng Bất động sản (căn hộ chung cư), chủ đầu tư phải nộp (i) thuế Giá trị gia tăng và (ii) thuế Thu nhập doanh nghiệp (trường hợp chủ đầu tư là doanh nghiệp) (theo Điều 2, Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng; Điều 3 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp). Pháp luật thuế quy định căn cứ tính thuế bao gồm giá tính thuế và thuế suất, trong đó cơ sở để xác định giá tính thuế là giá bán hàng hóa chưa chịu thuế.

Như vậy, đối với trường hợp này, giá tính thuế làm căn cứ tính thuế mà chủ đầu tư phải nộp cho Nhà nước là giá trị mua bán căn hộ chung cư mà các bên thỏa thuận trên hợp đồng mua bán (chưa bao gồm thuế hay các chi phí khác).

  1. Đối với hành vi có dấu hiệu của tội “Trốn thuế”

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) quy định chi tiết về Tội Trốn thuế tại Điều 200 như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

  1. a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;
  2. b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;
  3. c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;

[…]

  1. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”.

Căn cứ theo khoản 1 Điều này, đối với cá nhân, hành vi “Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa” trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm  thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

Đối với pháp nhân thương mại, điểm a Khoản 5 Điều 200 BLHS quy định trường hợp pháp nhân thương mại thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng. Tùy vào mức độ của hành vi mà pháp nhân thương mại còn có thể bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

Ngoài ra, pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.